Sáng ngày 24/11/2011, tại Hà Nội, Cục Xuất Bản – Bộ TT&TT đã tổ chức hội nghị tổng kết ngành In giai đoạn 2008-2010. Tham dự hội nghị có Thứ trưởng Bộ TT&TT Đỗ Qúy Doãn; Chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam Nguyễn Kiểm; Chủ tịch Hiệp hội in Việt Nam Nguyễn Văn Dòng; Ban lãnh đạo Cục Xuất bản cùng đại diện một số Công ty in ấn của các Bộ, Ngành trung ương và địa phương… Ban biên tập xin được đăng tải bản Báo cáo Tổng kết hoạt động in giai đoạn 2008 – 2010 để quý bạn đọc tham khảo.
PHẦN THỨ NHẤT: HOẠT ĐỘNG IN GIAI ĐOẠN 2008 – 2010
I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TOÀN NGÀNH
Năm 2008, tuy ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng ngành in nước ta vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng, mặc dù không cao so với những năm trước liền kề. Đến cuối năm 2010 và những tháng đầu năm 2011 lạm phát khoảng 18%, các chỉ số sản xuất công nghiệp và tiêu dùng đều gia tăng đáng kể, doanh thu ngành in cũng tăng lên, do giá nguyên vật liệu đầu vào và mọi chi phí cho sản xuất đều tăng cao, ngược lại, giá bán ra không tương xứng.
Theo số liệu thống kê của 717 cơ sở in (do 59 Sở TTTT và khối in Quân đội báo cáo) thì sản lượng trang in năm 2008 tăng khoảng 9,7%, đạt hơn 640 tỷ trang in 13 x 19 cm; năm 2009 tăng khoảng 15,9% đạt hơn 742 tỷ trang in 13 x 19 cm; năm 2010 tăng khoảng 15% đạt hơn 838 tỷ trang in 13 x 19 cm. Tổng số cơ sở in của cả nước khoảng gần 1500 cơ sở, số liệu trên ước đạt khoảng 80 – 85% thực tế vì chủ yếu là các cơ sở in lớn.
Số lượng cơ sở in có những biến động mạnh và theo chiều hướng tích cực hơn do có sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, nhưng vẫn có chiều hướng gia tăng. Song song với một số cơ sở in được đầu tư tốt ra đời là các cơ sở in cũ kỹ, lạc hậu về công nghệ thiết bị, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường đã phải giải thể chuyển sang kinh doanh ngành nghề khác. Các cơ sở in có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn sản xuất mảng sản phẩm bao bì, nhãn hàng hoá chất lượng cao, tuy vẫn tiếp tục được đầu tư, nhưng không nhiều, có lúc chững lại, cầm chừng.
Các văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được hoàn thiện đã thể chế hoá nhiều nội dung chỉ đạo của Đảng và nhà nước đối với hoạt động in, dần dần hướng tới một định chế thông thoáng hơn do đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Quy định của pháp luật đối với hoạt động in tiếp tục được tháo gỡ và cởi mở hơn. Sản phẩm in là hoá đơn tài chính được Chính phủ cho phép tự các doanh nghiệp đặt in, tiếp tục tạo điều kiện cho môi trường hoạt động in bình đẳng, tạo sự cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, thu hút mọi nguồn lực đầu tư để từng bước hiện đại hoá ngành in. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý các công đoạn sản xuất in, tự động một phần hoặc toàn phần vẫn đang từng bước được nghiên cứu áp dụng. Cán bộ kỹ thuật và công nhân ngành in nước ta tiếp tục được tiếp cận và làm chủ những thiết bị in hiện đại, tiên tiến. Cán bộ quản lý của các cơ sở in cũng được đào tạo, bồi dưỡng kịp thời. Chính vì vậy, ngành in cả nước đã đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
Tuy nhiên, ngành in nước ta vẫn còn gặp không ít khó khăn, nhất là giai đoạn suy giảm kinh tế hiện nay. Năng lực công nghệ, năng lực quản lý tuy được nâng lên, nhưng mới tập trung vào một số cơ sở in lớn. Hiệu quả sản xuất thấp do chi phí sản xuất tăng cao, nguyên liệu đầu vào gia tăng nhanh nhưng giá công in tăng không tương xứng, gây khó khăn cho các cơ sở in. Sản xuất in của các cơ sở in chủ yếu phục vụ trong nước chưa vươn ra được nhiều thị trường nước ngoài. Cơ sở in nước ta tuy nhiều nhưng đa số quy mô nhỏ bé, nhiều cơ sở in thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, năng lực cạnh tranh yếu. Các cơ sở in bao bì, nhãn hàng hoá chưa có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý chuyên ngành các cấp dẫn đến vi phạm pháp luật trong hoạt động in. Thu nhập của người lao động ngành in tuy có được cải thiện, nhưng không theo kịp tốc độ tăng giá tiêu dùng nên đời sống còn rất nhiều khó khăn.
Tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng các cơ sở in trong cả nước đã làm tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ giáo dục đào tạo, văn hoá – xã hội góp phần nâng cao dân trí, phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng tốt nhu cầu đọc của nhân dân và các sản phẩm in thương mại khác. Tập trung mọi nỗ lực hoàn thành tốt việc in sách, báo và các ấn phẩm phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Đặc biệt, đối với việc in sách giáo khoa phổ thông vẫn luôn là mối quan tâm và là trách nhiệm của các cơ sở in đối với nền giáo dục nước nhà, tuy giá công in thấp do nhiều năm không được tăng giá nên lợi nhuận thấp, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao vì sự nghiệp giáo dục, các cơ sở in đã vượt qua mọi khó khăn, động viên tinh thần người lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, đáp ứng đúng, đủ, kịp thời có sách giáo khoa trong ngày khai giảng của từng năm học.
Theo số liệu lưu chiểu tại Cục Xuất bản trong 3 năm (2008 – 2010) số xuất bản phẩm của các nhà xuất bản được in ra là gần 820 triệu bản sách tương đương gần 270 tỷ trang in 13 x 19cm; trong đó: Sách chính trị – xã hội – pháp luật gần 32 triệu bản; Sách giáo khoa gần 290 triệu bản; Sách giáo viên gần 164 triệu bản; Sách tham khảo hơn 244 triệu bản; và một số loại sách khác gần 92 triệu bản.
Đối với sản phẩm in là báo chí: cả nước có 745 cơ quan báo chí với 1003 ấn phẩm, số lượng phát hành khoảng 600 triệu bản/năm, tương đương khoảng gần 70 tỷ trang 13 x 19cm đã được một số cơ sở in chủ chốt hoàn thành tốt, với chất lượng cao, đáp ứng kịp thời thông tin chính xác đến bạn đọc.
Việc in lịch hàng năm cũng được các cơ sở in đáp ứng kịp thời, phục vụ đầy đủ nhu cầu thị trường với hình thức đẹp và chất lượng kỹ thuật in tốt. Chỉ tính riêng số lượng lịch bloc in ra mỗi năm khoảng 17 triệu bản. Nếu tính cả giai đoạn 3 năm thì số lượng lịch bloc được in ra khoảng hơn 50 triệu bản, tương đương hơn 50 tỷ trang in 13 x 19 cm.
Các tài liệu, xuất bản phẩm nhất thời của các cơ quan, tổ chức ở trung ương, địa phương, và các tổ chức nước ngoài nhằm phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, tài liệu hội thảo, hội nghị, kỷ yếu… với sản lượng in ước khoảng vài tỷ trang in mỗi năm đều được các cơ sở in ở trung ương và địa phương phục vụ tốt.
Tuy có suy giảm của nền kinh tế, nhưng các sản phẩm in mang tính thương mại như bao bì, tem nhãn, sản phẩm quảng cáo vẫn có chiều hướng gia tăng nhưng không nhiều, nhất là bao bì, hộp giấy, nhãn hàng hoá. Mảng sản phẩm này có lợi nhuận tốt hơn so với in xuất bản phẩm, nhưng phải đầu tư công nghệ tốt hơn, phức tạp hơn và đa dạng hơn để đáp ứng những tiêu chí khắt khe về chất lượng của từng loại bao bì, nhãn hàng hoá. Các cơ sở in và gia công mặt hàng này chủ yếu tập trung ở các trung tâm và trọng điểm in.
Tại hai trung tâm in lớn nhất của cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tuy vẫn tiếp tục được đầu tư, nhưng không nhiều so với những năm liền kề trước đó, do đầu tư giai đoạn này có sự lựa chọn trọng tâm hơn, tập trung vào những thiết bị mới, hiện đại, tiên tiến, tự động hoá cao và thiết bị in kỹ thuật số. Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ vị trí hàng đầu về hoạt động in ấn, sản xuất trên 60% sản lượng in toàn quốc, là nơi luôn đi đầu trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, đầu tư thiết bị và công nghệ, ứng dụng công nghệ mới, tạo ra năng lực công nghệ mạnh ở cả 3 công đoạn trước in, in và gia công sau in.
Việc in gia công cho nước ngoài hiện nay chưa nhiều. Tuy chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng ước khoảng vài tỷ trang in một năm, tập trung vào các nước như: Lào, Căm-pu-chia, Mỹ, Canađa, Nhật bản… do một vài cơ sở in đáp ứng như: Công ty in Trần Phú, Nhà in báo Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Công ty in TNHH một thành viên Quân đội 2, Công ty in và Văn hoá phẩm, Công ty in Thanh Bình…
Hoạt động quản lý chất lượng vẫn đang là mối quan tâm hàng đầu của các cơ sở in trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt. Việc gia tăng các cơ sở in đăng ký quản lý chất lượng theo hệ thống ISO đã chứng minh điều sống còn của doanh nghiệp đi liền với chất lượng sản phẩm.
Việc chấp hành pháp luật về hoạt động in, đa số cơ sở in trong cả nước chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở in vi phạm, nhất là vi phạm pháp luật về xuất bản, như: In khi chưa có giấy phép hoặc có nhưng hết hạn (do không làm thủ tục đổi theo quy định của pháp luật) hoặc không đúng chức năng, không có hợp đồng in, ký hợp đồng không đúng nội dung trong quyết định xuất bản, in nối bản không đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước… Đặc biệt, có cơ sở in đã tiếp tay cho in lậu, bị khởi tố vụ án để điều tra, bắt tạm giam một số nhân sự lãnh đạo, quản lý.
Một số cơ sở in chưa chấp hành nghiêm Luật lao động, thể hiện là việc không ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm đầy đủ cho người lao động, tình trạng này vẫn đang diễn ra tại một số cơ sở in dân doanh.
Việc chấp hành chế độ báo cáo hoạt động in theo quy định của pháp luật của nhiều cơ sở in không được tốt, vì vậy, công tác quản lý nhà nước chưa có thông tin đầy đủ để xây dựng quy hoạch phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn. Ví dụ, Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội báo cáo đến nay cả thành phố có khoảng hơn 400 cơ sở in công nghiệp, nhưng đến thời điểm này chỉ có hơn 40 cơ sở in báo cáo số liệu theo yêu cầu; Thành phố Hồ Chí Minh có gần 300 cơ sở in công nghiệp nhưng chỉ có hơn 150 cơ sở in có số liệu báo cáo… Đây là một phần của hệ quả buông lỏng công tác quản lý nhà nước khi nhiều doanh nghiệp hiểu không đúng về việc bãi bỏ thủ tục hành chính đối với hoạt động in.
Tình trạng in lậu vẫn tiếp diễn, vi phạm nghiêm trọng pháp luật về quyền tác giả, ảnh hưởng đến người làm ăn chân chính và thất thu thuế nhà nước. Năm 2010, 2011 có 3 cơ sở in lậu quy mô lớn bị bắt quả tang, cơ quan chức năng đã ra quyết định khởi tố vụ án và bắt tạm giam bị can, là: Xưởng in – Công ty cổ phần phát hành sách và thiết bị trường học Việt Nam (nhà sách Tiến Thọ) tại Hà Nội; Công ty cổ phần in Hoa Mai Tp Hồ Chí Minh; Công ty TNHH Minh Tâm (nhà sách Minh Thắng) tại Hà Nội.
II. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ SỞ IN
Các cơ sở in của Đảng, Bộ, Ngành trung ương vẫn được đầu tư tốt với những trang thiết bị hiện đại, tiên tiến, nhiều dây chuyền tự động, khép kín đảm bảo được việc in báo, tạp chí và các ấn phẩm cao cấp khác với số lượng lớn, nhiều màu, chất lượng ngày một cao, thời gian giao hàng nhanh, thuận lợi hơn trong sản xuất kinh doanh.
Cơ sở in sự nghiệp công lập (nội bộ hoặc có thu), được tổ chức và hoạt động theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ đã duy trì và phát huy tốt vai trò phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và tham gia vào thị trường, đáp ứng một phần nhu cầu văn hoá đọc của nhân dân, đóng góp với ngân sách quốc gia.
Các cơ sở in địa phương tuy chịu nhiều tác động của cơ chế thị trường nhưng vẫn luôn xác định phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ hàng đầu. Cho đến nay hầu hết các đơn vị in địa phương tuy đã được đầu tư tốt hơn, nhưng vẫn khó khăn. Thị trường ấn phẩm nhỏ bé, nguồn công việc tại chỗ ít, khó khai thác công việc từ ngoài tỉnh. Thiếu vốn vẫn là nguyên nhân chính hạn chế đầu tư nâng cao năng lực sản xuất làm cho nhiều cơ sở in khó phát triển. Tuy nhiên, có một số công ty đã mạnh dạn đổi mới, đầu tư thiết bị, tìm kiếm thị trường, áp dụng nhiều biện pháp cạnh tranh để giữ vững và phát triển sản xuất. Đến nay, tỉnh Quảng Ngãi vẫn chưa khôi phục được cơ sở in để in tờ báo của tỉnh và các nhu cầu khác của địa phương.
Các cơ sở in dân doanh tiếp tục có những bước đột phá trong tiếp cận thị trường, đầu tư công nghệ, tìm kiếm nhân lực và định hướng sản phẩm linh hoạt hơn. Nhiều cơ sở in trong hơn 3 năm qua đã mạnh dạn đầu tư nhiều tỷ đồng cho những trang thiết bị hiện đại. Đặc biệt, có những cơ sở in nhỏ, năng lực tài chính hạn chế đã cùng nhau hùn vốn để đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, tăng sức cạnh tranh.
Cơ sở in có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đầu tư khai thác thị trường in bao bì, nhãn hàng hoá có chất lượng cao. Nguồn vốn đầu tư tuy có giảm so với những năm trước và có lúc chững lại, nhưng các cơ sở in này vẫn duy trì được năng lực cạnh tranh, có nguồn việc ổn định và đáp ứng tốt hơn nhu cầu về sản phẩm in có chất lượng cao.
Việc sắp xếp, đổi mới mô hình tổ chức của các cơ sở in nước ta được tiến hành nhanh, đến nay cơ bản phù hợp với các quy định hiện hành, như:
Cơ sở in là doanh nghiệp, cơ sở in phụ thuộc doanh nghiệp (theo Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư)
Cơ sở in sự nghiệp công lập (theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP)
Cơ sở in là hộ gia đình (chủ yếu là in lưới) theo Nghị định về đăng ký hộ kinh doanh.
Các cơ sở in nhà nước của các Bộ, Ngành trung ương đến địa phương là doanh nghiệp đã cơ bản chuyển thành công ty TNHH một thành viên hoặc công ty cổ phần. Tuy nhiên, còn một số cơ sở in phục vụ an ninh, quốc phòng vẫn hoạt động theo mô hình doanh nghiệp công ích, và một số cơ sở in chỉ in phục vụ nội bộ, không kinh doanh. Nhưng, nhìn chung các cơ sở in sau khi chuyển đổi mô hình tổ chức, cổ phần hoá, việc quản lý, tổ chức sản xuất được cải tiến tốt hơn, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất cao hơn, thu nhập của người lao động cũng tăng lên.
Ngành in nước ta cơ bản đã chuyển đổi sang những công nghệ phù hợp hơn, nhưng đa số thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Những năm gần đây, các thiết bị in đa phương pháp, nhiều màu hoàn thiện sản phẩm trên một dây chuyền dùng để in tem, nhãn, bao bì tiếp tục được chú trọng đầu tư nhiều hơn. Những máy in ốp xét cuộn, tờ rời, máy in flexo, in lõm (ống đồng) vẫn tiếp tục được đầu tư tại một số cơ sở in. Hệ thống chế bản CTP (computer to plate) đang dần thay thế hệ thống chế bản ra phim CTF. Một số cơ sở in đã mạnh dạn đầu tư thiết bị in mới 100% và thuộc thế hệ công nghệ mới nhất tại thời điểm đầu tư, có giá trị từ hàng chục tỷ đến gần 100 tỷ đồng/máy. Tuy nhiên, số đơn vị này không nhiều, nhưng đây sẽ là giai đoạn bắt đầu cho việc chuyển đổi thiết bị, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu sang thiết bị, công nghệ mới và hiện đại, đáp ứng ngày một cao hơn về chất lượng sản phẩm in, mang lại giá trị gia tăng nhiều hơn cho doanh nghiệp.
Tuy việc đầu tư có chọn lọc hơn, nhưng vẫn còn trùng lắp, thiếu sự đa dạng tạo nên sự chuyên biệt hoá về công nghệ và sản phẩm nên đa số cơ sở in mang dáng dấp của một nhà in tổng hợp, vừa gây lãng phí vốn đầu tư, vừa tạo thêm sức ép trong cạnh tranh ở phân khúc thị phần sản phẩm truyền thống, bỏ ngỏ khá nhiều khoảng trống của thị trường để cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm lĩnh. Số lượng nhà in chuyên biệt chiếm quá ít, đây chính là nguyên nhân cơ bản của sự cạnh tranh gay gắt hiện nay, tạo nên một thực trạng trớ trêu là vừa thừa lại vừa thiếu về năng lực công nghệ.
Công nghệ in kỹ thuật số chưa phát triển và đang lẩn quẩn như một mô hình in gia công số lượng ít, các doanh nghiệp in kỹ thuật số đang hoạt động cầm chừng và phải kết hợp với in Offset để tồn tại.
Theo thống kê của 717 cơ sở in, tính đến cuối năm 2010, tổng giá trị thiết bị in khoảng 4.770 tỷ đồng, tổng giá trị nhà xưởng khoảng 1.033 tỷ đồng.
Nguồn nhân lực ngành in Việt Nam vẫn trong tình trạng vừa thiếu, vừa yếu, do đầu tư cho nguồn nhân lực không tương xứng với quá trình đầu tư thiết bị, số lao động không qua đào tạo chính quy chiếm tỉ trọng lớn (gần 60%). Theo thống kê của 717 cơ sở in thì số lao động được đào tạo đang làm việc tại các cơ sở in có trình độ cao rất thấp: trên đại học: 0,7%); đại học, cao đẳng: 13,85%; trung cấp: hơn 16%; công nhân bậc 2 đến 5: 32%, bậc 6 đến 7: 8,64%.
Hiện nay, cả nước có 7 cơ sở đào tạo tập trung tại hai thành phố là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí minh, hàng năm cung cấp cho ngành in một số lượng lao động rất hạn chế. Đặc biệt, tỷ lệ lao động có tay nghề cao và nhân lực ngành thiết kế đồ họa cho in rất thấp, đang là vấn đề nan giải của nhiều cơ sở in.
Mặt khác, do suy giảm kinh tế, lạm phát gia tăng, giá công in thấp nên thu nhập người lao động thấp (lương bình quân người lao động ngành in trên toàn quốc hiện nay khoảng 2,5 triệu đồng/tháng), đời sống gặp rất nhiều khó khăn, một số lao động đã chuyển sang nghề khác, hơn nữa, các doanh nghiệp in nhà nước sau khi cổ phần hoá đã giảm biên chế lao động, một số công nghệ hiện đại sử dụng ít lao động được ứng dụng, một số cơ sở in không đáp ứng được nhu cầu của thị trường đã giải thể. Vì vậy, nguồn lực lao động ngành in hiện nay đang có xu hướng giảm đi.
Trong 3 năm qua hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành in gặp nhiều khó khăn do suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao đã làm ảnh hưởng đến năng lực đầu tư phát triển của các doanh nghiệp in. Sự biến động phi mã của chi phí đầu vào và lãi suất ngân hàng tăng cao đã tạo áp lực lớn đến đầu tư, sản xuất hoạt động in, nhiều cơ sở in đã phải thu hẹp quy mô sản xuất, đưa ra nhiều giải pháp để tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất. Sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường giữa các cơ sở in trong nước với nhau và với cơ sở in có vốn đầu tư nước ngoài khiến giá bán đầu ra của sản phẩm in không tương xứng với giá gia tăng của chi phí đầu vào. Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp in còn bị khách hàng chiếm dụng vốn hoặc ép giá công in, một số khách hàng còn là những con nợ khó đòi. Vì vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, đời sống người lao động giảm sút.
Bên cạnh những khó khăn trên, ngành in Việt Nam cũng có những thuận lợi nhất định do cơ chế mang lại, như in xuất bản phẩm, báo, tạp chí, tem chống giả không phải cạnh tranh với các cơ sở in có vốn đầu tư nước ngoài nên vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng nhất định, mặc dù không cao. Các sản phẩm này có chiều hướng giảm dần về số lượng do sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, nhưng những sản phẩm in thương mại, nhất là bao bì, nhãn sản phẩm hàng hoá có chiều hướng gia tăng theo sự phát triển chung của nền kinh tế, thuận lợi cho ngành in tiếp tục phát triển.
Theo thống kê của 717 cơ sở in thì hoạt động sản xuất kinh doanh đã đạt được những kết quả sau:
Tuy sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhưng các cơ sở in trong cả nước vẫn phát huy tốt truyền thống tương thân tương ái, uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, có nhiều hoạt động ủng hộ quỹ tấm lòng vàng, quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam, xây nhà tình nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, ủng hộ đồng bào thiên tai, lũ lụt v.v… Theo báo cáo của 717 cơ sở in, trong 3 năm (2008 – 2010) đã ủng hộ với tổng số tiền gần 15 tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với kỳ hội nghị năm 2008.
III. CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ
Chúng ta chưa quan tâm đúng mức đối với nguồn nhân lực, các cơ sở in chủ yếu dựa vào nhà cung cấp hướng dẫn các kỹ năng sử dụng thiết bị, chưa thật sự có kế hoạch dài hạn cho công tác đào tạo và sử dụng lao động. Hiện nay cả nước có 7 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực ngành in là: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Công nghiệp In tại Hà Nội, Trường Trung cấp nghề An Đức, Trường Trung cấp nghề kỹ thuật – Kinh tế Sài Gòn 3, Cơ sở đào tạo ITAXA thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm dạy nghề in Hà Nội với tổng số đội ngũ giáo viên cơ hữu là 153 người, giáo viên thỉnh giảng 57 người, trình độ của giáo viên trên đại học chiếm trên 50%.
Trong 7 cơ sở đào tạo, chỉ có duy nhất trường Đại học Bách khoa Hà Nội đào tạo sau đại học ở trình độ Thạc sỹ. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Cao đẳng công nghiệp in Hà Nội đào tạo trình độ cử nhân 4 năm và trình độ kỹ sư 5 năm theo chương trình niên chế, tín chỉ và thông thường. Từ năm 2009, sinh viên học tại trường Bách khoa Hà Nội chủ yếu theo chương trình Kỹ thuật In và Truyền thông với 2 định hướng Kỹ thuật in và Kỹ thuật đồ họa truyền thông. Tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh chú trọng công tác đào tạo theo hướng công nghệ, rèn luyện kỹ năng hành nghề, ứng dụng có hiệu quả các phần mềm và giáo trình điện tử trong đào tạo.
Tuy lực lượng cán bộ đào tạo có trình độ cao, chương trình đào tạo tương đối phù hợp, điều kiện tuyển sinh thuận lợi, nhưng thực tế hiện nay cho thấy, số lượng sinh viên đăng ký vào ngành Kỹ thuật in tại các trường Đại học ngày càng giảm, do thông tin về ngành in còn quá ít, lại được xếp vào nhóm ngành chưa phù hợp (Kỹ thuật Hoá học – Sinh học – Thực phẩm – Môi trường) nên thông tin đến được đối tượng muốn học càng khó khăn, nhất là với học sinh cuối cấp phổ thông trung học. Hơn nữa, thu nhập ngành in thấp. Hiện nay, các sinh viên vào học ngành in thường không theo đúng nguyện vọng, nên tinh thần học tập, học lực của sinh viên so với các ngành khác thường thấp hơn.
Bên cạnh đó là các trường trung cấp và cơ sở đào tạo nghề in chủ yếu đào tạo công nhân kỹ thuật, hàng năm vẫn cung cấp nhiều lao động cho ngành in với nhiều loại hình khác nhau, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Tuy các cơ sở đào tạo đã cố gắng quan tâm đầu tư trường lớp, phòng thí nghiệm, thiết bị giảng dạy, thực hành, nhưng do còn nhiều lý do nên đầu tư cơ sở vật chất còn hạn chế, giáo trình không thống nhất, máy móc, thiết bị cũ không đồng bộ, vật liệu ngành in cho thực tập còn thiếu. Do vậy, hầu hết sinh viên ra trường khi vào làm việc tại các nhà máy chưa thể làm được ngay, mà thường phải trải qua thời gian thực tập ở từng khâu, từng thiết bị của nhà máy mới có thể làm được.
Hàng năm, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Cao đẳng công nghiệp in Hà Nội đã tổ chức tốt các khoá bồi dưỡng kiến thức về quản lý in cho các đối tượng là lãnh đạo, quản lý cơ sở in. Chương trình học đã giúp cho các nhà quản lý nắm chắc được các quy định của pháp luật về hoạt động in, xu hướng phát triển ngành in của Việt Nam và trên thế giới, được học viên đánh giá cao, đáp ứng nhu cầu về kiến thức quản lý hoạt động in đối với lãnh đạo cơ sở in.
Theo thống kê của 7 cơ sở đào tạo, trong 3 năm 2008 – 2010 đã đào tạo được 6 thạc sĩ; 718 người trình độ Đại học, Cao đẳng; 734 người trình độ Trung cấp; 749 người trình độ sơ cấp học nghề; 4596 người được bồi dưỡng nghề; 3781 người được sát hạch thi nâng bậc thợ.
IV. CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT, KINH DOANH THIẾT BỊ, VẬT TƯ NGÀNH IN
Thiết bị, vật tư ngành in nước ta hầu hết phải nhập khẩu, chỉ có một số ít doanh nghiệp sản xuất được các thiết bị mang tính phụ trợ, như: máy phơi bản, máy đóng thép, máy cán láng, ép nhũ và những công cụ bằng tay đơn giản. Đến nay chưa có công ty nào hợp tác với nước ngoài để sản xuất các thiết bị chính trong ngành in.
Các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị trong những năm vừa qua cũng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của nền kinh tế nên các cơ sở in đã hạn chế đầu tư, mua sắm.
Về nguyên liệu phục vụ cho ngành in, nước ta mới chỉ sản xuất chưa được một nửa nhu cầu tiêu dùng giấy in, giấy viết và một số loại giấy chất lượng thông thường khác, chưa sản xuất được giấy cao cấp, hàng năm phải nhập một lượng lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất in.
Bản in và mực in, tuy trong nước đã có một số đơn vị sản xuất, nhưng chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ cho thị trường, hoặc chưa thể cạnh tranh được với bản in, mực in của nước ngoài nên phần lớn vẫn phải nhập khẩu, nhất là đối với bản in và mực in chất lượng cao.